Cách điều trị bệnh tay chân miệng cho bé & những phòng khám uy tín

Cách điều trị bệnh tay chân miệng cho bé và những phòng khám uy tín: Thông thường các triệu chứng thường gặp nhất của bệnh tay chân miệng là phát ban ở các bộ phận miệng, môi, lợi, lưỡi, tay, chân và các vùng khác trên cơ thể. Sau đó, các nốt ban này sẽ dần hình thành dạng phỏng nước. Khi các nốt phỏng này vỡ có thể sẽ gây ngứa cho bé. Tuy nhiên, bố mẹ không nên tự ý dùng bất kỳ loại thuốc gì bôi cho trẻ nếu chưa có sự chỉ định của bác sĩ. Việc bôi các loại thuốc sẽ khiến cho các biểu hiện của bệnh tạm thời bị lu mờ, các vết loét có thể bị tổn thương nặng hơn và khó điều trị hơn. Đặc biệt không được dùng cồn để sát khuẩn bởi chúng sẽ gây đau rát và làm các vết loét lâu lành. Lúc này, tốt nhất các mẹ nên đưa trẻ đến gặp bác sĩ để dược tư vấn loại thuốc bôi phù hợp nhất. Thường thì bé sẽ được chỉ định dùng dung dịch sát khuẩn nhẹ cho da như xanhmethylen, milian,… và niêm mạc như zytee, kamistad,… khi da có các vết loét.

Cách điều trị bệnh tay chân miệng cho bé

Hiện nay chưa có thuốc đặc trị chống EV71, vì vậy việc điều trị chủ yếu là điều trị triệu chứng và các biện pháp điều trị tích cực nhằm duy trì chức năng sống đối với các trường hợp nặng, đặc biệt có suy tuần hoàn, hô hấp. Hiện nay chưa có thuốc đặc trị chống virut EV71. Một số nghiên cứu dùng acyclovir là thuốc kháng virut hoặc dùng interferon là một nhóm protein tự nhiên được sản xuất bởi các tế bào của hệ miễn dịch của hầu hết các động vật nhằm chống lại các tác nhân gây bệnh như virut, vi khuẩn, ký sinh trùng và tế bào ung thư.

Cách điều trị bệnh tay chân miệng cho bé và những phòng khám uy tín

Hiện nay, các chế phẩm interferon gamma chủ yếu được dùng trong các bệnh viêm gan do virut B, C hoặc HIV/AIDS. Còn các loại interferon có khả năng ức chế EV71 vẫn đang được thử nghiệm. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khu vực Tây Thái Bình Dương có đưa ra hướng dẫn xử trí bệnh tay chân miệng từ năm 2011 như sau:

– Nếu trẻ mới có các dấu hiệu bệnh tay chân miệng như sốt hoặc bệnh sử có sốt, ban sẩn mụn nước ở tay chân, có thể loét miệng hoặc không. Đây là giai đoạn không có biến chứng có thể điều trị tại nhà các triệu chứng này: dùng paracetamol hạ sốt giảm đau. Uống bù nước và điện giải bằng dung dịch oresol. Dùng dung dịch sát khuẩn da như xanhmethylen, milian… và niêm mạc như zytee, kamistad… cho các vết loét. Và hướng dẫn cha mẹ nhận biết các dấu hiệu nguy cơ như sốt cao, li bì, nôn… để đưa trẻ đến cơ sở y tế. Theo dõi các dấu hiệu lâm sàng chưa có nguy cơ từ 1 – 2 ngày hoặc tới 1 tuần lúc đó bé sẽ hồi phục.

– Nếu trẻ có các dấu hiệu nặng lên cần đưa trẻ tới viện ngay. Vì chưa có vaccin phòng bệnh nên biện pháp phòng bệnh hiệu quả nhất vẫn là thực hiện vệ sinh tốt được áp dụng rộng rãi trong cộng đồng:

Phòng bệnh trong cộng đồng:

– Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng dưới vòi nước chảy nhiều lần trong ngày (cả người lớn và trẻ em), đặc biệt trước khi chế biến thức ăn, trước khi ăn/cho trẻ ăn, trước khi bế ẵm trẻ, sau khi đi vệ sinh, sau khi thay tã và làm vệ sinh cho trẻ.

– Thực hiện tốt vệ sinh ăn uống: ăn chín, uống chín; vật dụng ăn uống phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng (tốt nhất là ngâm tráng nước sôi); đảm bảo sử dụng nước sạch trong sinh hoạt hàng ngày; không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho trẻ dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống như cốc, bát, đĩa, thìa, đồ chơi …

– Thường xuyên lau sạch các bề mặt, dụng cụ tiếp xúc hàng ngày như đồ chơi, dụng cụ học tập, tay nắm cửa, tay vịn cầu thang, mặt bàn/ghế, sàn nhà bằng xà phòng hoặc các chất tẩy rửa thông thường.

– Không cho trẻ tiếp xúc với người bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.

– Cách ly trẻ bệnh tại nhà. Không đến nhà trẻ, trường học, nơi các trẻ chơi tập trung trong 10-14 ngày đầu của bệnh.

Tại các cơ sở y tế:

– Khi chăm sóc trẻ, người chăm sóc có thể nhiễm virus gây bệnh. Vì vậy những người này không nên đi lại tự do giữa các phòng bệnh hoặc đi ra ngoài bệnh viện.

– Hạn chế tối đa người nhà vào phòng bệnh. Khi vào thăm bệnh nhi đang điều trị và tiếp xúc với các vật dụng đang sử dụng trong bệnh viện, người tới thăm có thể mang mầm bệnh ra cộng đồng.

– Không nên mang các vật dụng, đồ chơi từ bệnh viện về nhà, nếu mang về thì cần tiệt trùng sạch sẽ.

Địa chỉ khám bệnh tay chân miệng cho bé

Tay chân miệng là một trong những bệnh thường gặp ở trẻ em khiến nhiều cha mẹ lo lắng. Không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, mà bệnh này còn có thể gây nguy cơ tử vong. Vậy, khi nào thì mẹ cần phải đưa bé đi viện và bệnh tay chân miệng khám ở đâu thì tốt?  Khi phát hiện những dấu hiệu bệnh tay chân miệng ở trẻ, thì việc đứa bé đi khám nên là việc làm được ưu tiên hàng đầu. Phòng khám tay chân miệng hiện nay rất nhiều, tuy nhiên nhiều mẹ vẫn băn khoăn về vấn đề bệnh tay chân miệng khám ở đâu thì tốt, đảm bảo trị mầm bệnh, đảm bảo được sức khỏe và sự an toàn cho con.

Bệnh tay chân miệng mặc dù phổ biến, nhưng lại là một căn bệnh khá đơn giản trong cách xử lý, điều trị, do đó, khi phát hiện bé bị bệnh, cha mẹ cần nhanh chóng đưa con đến bệnh viện gần nhất để được xử lý, đồng thời cách ly trẻ tốt nhất. Không cần thiết phải đưa bé đến những bệnh viện tuyến cao vì bệnh này có thể được xử lý tốt ở cấp cơ sở. Cùng với đó, mẹ cũng nên cho bé nghỉ học tạm cho đến khi lành hẳn bệnh, thông báo với nhà trường, địa phương, nhằm có hướng phòng bệnh cho những trẻ khác.

Một lưu ý là rất nhiều cha mẹ khi khám bệnh tay chân miệng cho con, lại chờ đợi thời gian đến khám ở những phòng khám ngoài giờ quen thuộc (địa chỉ thường xuyên khám bệnh dịch vụ mà cha mẹ hay sử dụng). Tuy nhiên, các chuyên gia sức khỏe khuyên bạn không nên đến khám ở những cơ sở này vì điều kiện cách ly không tốt.

Hãy đưa đến bệnh viện để các bác sĩ chuyên khoa nhi có hướng điều trị kịp thời cho bé. Nếu bạn ở gần bệnh viện nhi thì quá tốt, hãy đưa bé vào đó để được kiểm tra nhanh chóng tình trạng bệnh. Các mẹ có thể cho con đi khám tại Khoa Nhi những bệnh viện trực thuộc Quận – Huyện gần nơi ở hoặc theo danh sách những cơ sở y tế dưới đây:

Bệnh viện nhi Trung ương (Hà Nội)

Bệnh viện Nhi Trung ương là Bệnh viện Nhi khoa tốt nhất Việt Nam và là một trong 3 bệnh viện hàng đầu khu vực trong lĩnh vực Nhi khoa: Cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trẻ em tốt nhất Việt Nam, đầu tư, ứng dụng các công nghệ cao và hiện đại để đạt được kết quả ngày một tốt hơn cho sức khoẻ trẻ em, phát triển trung tâm đào tạo và nghiên cứu Nhi khoa, chỉ đạo phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ trẻ em trong cả nước. Tại đây lợi ích của bệnh nhân và gia đình bệnh nhân luôn là ưu tiên hàng đầu với các dịch vụ tiên tiến nhất trong việc chăm sóc bệnh nhân và trong các dịch vụ khác.

Bệnh viện Nhi Đồng 1 (HCM)

Bệnh viện Nhi đồng 1 là bệnh viện chuyên khoa nhi, được xây dựng năm 1954 và chính thức hoạt động vào tháng 10 năm 1956 với 268 giường bệnh nội trú. Trải qua hơn 58 năm hoạt động, Bệnh viện chúng tôi ngày càng phát triển vững mạnh với quy mô 1.400 giường nội trú, hơn 1.600 nhân viên; Bệnh viện thu dung trên 1,5 triệu lượt khám và 95.000 lượt điều trị nội trú hàng năm. Hiện nay, bệnh viện tiếp nhận điều trị tất cả các trẻ bệnh từ mới sinh đến 15 tuổi ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh.

Bệnh viện được xếp hạng là bệnh viện chuyên khoa nhi hạng 1, tuyến cuối về nhi khoa; do sở Y tế thành phố.Hồ Chí Minh trực tiếp quản lý; được Bộ Y tế phân công chỉ đạo tuyến cho khu vực Tây Nam Bộ, thực hiện đề án bệnh viện vệ tinh cho 3 tỉnh Long An – Cần Thơ – Cà Mau; là trung tâm đào tạo thực hành cho Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, Khoa Y – Đại học Quốc gia thành phố.Hồ Chí Minh; Bệnh viện còn là cơ sở đào tạo y khoa liên tục do Bộ Y tế cấp mã đào tạo. Bệnh viện là nơi tiếp nhận sinh viên quốc tế đến tham quan, học tập chuyên ngành nhi khoa. Với một tập thể đội ngũ 1600 nhân viên nhiệt tình, năng động, có trình độ tay nghề giỏi và trang thiết bị y tế hiện đại, Bệnh viện đã đóng góp rất nhiều vào sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho các cháu bệnh nhi.

Bệnh viện Nhi Đồng 2 (HCM)

Bệnh viện Nhi đồng 2 tọa lạc tại số 14 Lý Tự Trọng – Phường Bến nghé, quận 1 – thành phố Hồ Chí Minh, là một trong ba bệnh viện chuyên khoa nhi hàng đầu tại Việt nam, cùng với Bệnh viện Nhi đồng 1 phụ trách điều trị bệnh nhân nhi khoa và tham gia chỉ đạo tuyến cho các tỉnh/thành phía Nam, khu vực miền Đông Nam bộ, duyên hải miền Trung và Tây nguyên.

Bệnh viện Nhi đồng 2 là cơ sở thực tập và đào tạo sinh viên, Bác sĩ sau đại học của đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh/thành phía Nam, cử nhân Quản trị bệnh viện của đại học Hùng Vương. Trong năm 2011, Bệnh viện Nhi đồng 2 được Bộ Y tế công nhận là cơ sở đào tạo về Nhi khoa của Bộ và cấp mã số đào tạo. Hàng năm áp dụng nhiều tiến bộ kỹ thuật y học của Thế giới vào trong chẩn đoán, điều trị và có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp bộ và cấp cơ sở. Dù nhiệm vụ chính là công tác chuyên môn khám và điều trị bệnh, nhưng bệnh viện luôn hướng về cộng đồng, thường xuyên tổ chức nhiều đợt khám bệnh từ thiện và phát thuốc cho đồng bào vùng sâu, vùng xa như Gia Lai, Long An, Bình Dương.

Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng

Khoa Nhi – Hồi sức tích cực tại Bệnh viện Phụ sản – Nhi Đà Nẵng thực hiện quy chế công tác khoa nội nhi: là khoa lâm sàng, thực hiện các phương pháp không phẫu thuật để điều trị bệnh nhi; Trong khám bệnh, điều trị bệnh phải kết hợp chặt chẽ lâm sàng, các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng và kết hợp với các chuyên khoa; Tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến dưới.

Một số công tác đặc thù của khoa nhi: là khoa lâm sàng điều trị các bệnh cho trẻ em dưới 15 tuổi; Khoa được bố trí theo đơn nguyên, thiết kế riêng phù hợp với sinh lí bệnh và tâm sinh lí của từng lứa tuổi; Có chế độ ăn thích hợp với bệnh lí và lứa tuổi của trẻ em. Trong đó có đơn nguyên Hồi sức nhi có chức năng điều trị các bệnh nhi nặng, cấp cứu và hồi sức tích cực cho các bệnh nhân nhi nặng; Và đơn nguyên Nhi sơ sinh điều trị cho các bệnh lý sơ sinh, cấp cứu và hồi sức tích cực cho bệnh sơ sinh nặng đủ tháng và non tháng.

Khoa Y học nhiệt đới Nhi – Cấp cứu – Hồi sức tích cực và Bệnh lý là khoa lâm sàng, thực hiện quy chế công tác khoa nội nhi, là các phương pháp điều trị không phẫu thuật để điều trị bệnh; Trong khám bệnh, điều trị bệnh phải kết hợp chặt chẽ lâm sàng, các kết quả xét nghiệm cận lâm sàng và kết hợp với các chuyên khoa; Tham gia đào tạo, nghiên cứu khoa học và chỉ đạo tuyến dưới.

Một số công tác đặc thù của khoa truyền nhiễm: Khoa phải bảo đảm các quy định về cách li, chống lây chéo, có buồng bệnh khép kín và có lối đi cho người bệnh vào khoa điều trị không đi qua các khoa khác; Có đủ các điều kiện và phương tiện khử khuẩn đối với người bệnh và người tiếp xúc; Chỉ đạo tuyến dưới và tham gia công tác phòng chống dịch tại cơ sở.